
Ở Châu Á, lịch sử gia phả đã có trên 3.000 năm, châu Âu đã có gần 500 năm. Gia phả được xem là một bức tranh lịch sử thu nhỏ của một dòng họ, một vùng đất cùng với những sự kiện lịch sử, những biến đổi xã hội, sự tham gia và những ảnh hưởng của dòng họ đến tiến trình của lịch sử xã hội của những vùng, miền khác nhau tại địa phương và thậm chí đất nước.
Tại Việt Nam, trước đây gia phả đơn giản ghi chép tên cúng cơm, tên hiệu ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Có thể gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ hoặc gần hơn tức là từ thời Lý Nam Đế (khoảng năm 476-545) khi chữ Nho được truyền bá ở nước ta. Tuy nhiên, phải đến thời nhà Lý, nhà Trần (thế kỷ IX - XIII), văn hoá phát triển và đất nước được hoà bình trong một thời gian dài mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích), phả ký (ghi hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên). Ban đầu, gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc cùng giới quan lại. Nhà Lý có "Hoàng Triều Ngọc Điệp" (1026); nhà Trần có "Hoàng Tông Ngọc Điệp", nhà Lê có "Hoàng Lê Ngọc Phả"... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng tộc là gia phả của các danh gia, quan lại và lan rộng việc ghi chép gia phả trong nhân dân.